Kinh tế
Hội thảo xây dựng chuỗi ngành hàng cà phê VN chất lượng cao

Sáng ngày 12/03/2023; trong khuôn khổ Lễ hội cà phê lần thứ IIX, UBND tỉnh Đak Lak đã phối hợp với Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, tổ chức hội thảo “ Phát triển cà phê chất lượng cao”.
Theo thống kê sơ bộ; diện tích cà phê năm 2022 của Việt Nam đạt khoảng 710,66 nghìn ha, năng suất đạt 28,2 tạ/ha cho sản lượng hơn 1,84 triệu tấn. Trong đó, 05 tỉnh Tây Nguyên chiếm 91,2% về diện tích cà phê, đạt 93,2% sản lượng cả nước.
Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển nông thôn đã thống kê: sản lượng cà phê đưa vào chế biến trên 1,5 triệu/năm, với 03 sản phấm chế biến: cà phê nhân – có trên 100 cơ sở với tổng công suất thiết kế 1,5 triệu tấn. Cà phê bột – cà phê rang xay, có 620 cơ sở với tống công suất 73.150 tấn sản phẩm/năm, trong đó có gần 50% là cơ sở chế biến nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình. Cà phê hòa tan: có 06 nhà máy cà phê hòa tan, 17 nhà máy, cơ sở sản xuất cà phê phối trộn với tổng công suất khoảng 220.000 tấn sản phẩm/năm.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Tuấn Hà – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đak Lak cho biết: hiện tỉnh có hơn 213.000 ha trồng cà phê, tỉnh sẽ không tăng diện tích; do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trồng nhỏ lẻ, cơ sở chế biến chưa đáp ứng được thực tế, còn sử dụng hoá chất…đã ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng cà phê của địa phương, vì vậy tỉnh sẽ tập trung nâng cao chất lượng và đăng ký chỉ dẫn địa lý. Tuy nhiên; tỉnh Đak Lak cũng xin đề xuất và kiến nghị về 02 đề án triển khai cà phê của tỉnh, cần phát triển mạnh mẽ trong tăng trưởng xanh, sớm công bố quy chế quản lý cà phê chất lượng cao, nhãn hiệu chứng nhận là điều cần xác định rõ ràng cho doanh nghiệp có điều kiện xuất khẩu.
Ông Lê văn Đức – Phó Cục trưởng – Cục Chăn nuôi và Trồng trọt cho biết : hiện trên thế giới có 10 nước sản xuất cà phê lớn nhất, trong đó có VN đứng thứ nhì sau Braxin; chúng ta có khoảng 1,36 triệu đất bazan, với thị trường xuất khẩu mạnh ở cá nước như: Mỹ, Châu Âu, các nước khác…cơ cấu xuất khẩu cà phê năm 2021 đạt 43%, năm 2022 đạt 48%…

Bức tranh toàn cảnh cà phê VN:
Trong 05 tỉnh Tây Nguyên trồng cà phê; Đắk Lắk và Lâm Đồng là 02 tỉnh có diện tích trồng cà phê và cho sản lượng lớn nhất, Lâm Đồng là tỉnh sản xuất cà phê cho năng suất cao nhất là 33,1 tạ/ha cao hơn 17,1% so với tổng trung bình năng suất của 05 tỉnh Tây Nguyên cũng như cả nước.
Gia Lai chủ yếu trồng cà phê vối; người dân sử dụng giống cà phê lai đa dòng TRS1 và giống TR4, TR9 đã được Bộ NN&PTNT công nhận là giống có năng suất cao, thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu, kháng được bệnh gỉ sắt. Giống cà phê Robusta trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các dòng cao sản cho năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh gỉ sắt như: TR4, TR9, TR11, TRS1….Sở Nông nghiệp cũng đã công nhận một số giống cà phê do người dân chọn lọc cho năng suất cao, chất lượng tốt như: Thiện Trường; Xanh lùn… Gia Lai có khoảng 36.620,3 ha cà phê sản xuất theo các tiêu chuẩn chứng nhận VietGAP, 4C, Rainforest, Organic…Hiện tại có trên 12.068,6 ha cà phê ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến. Theo Kế hoạch đến năm 2030; tỉnh duy trì ổn định khoảng 98.000 – 100.00 ha cà phê, đẩy mạnh tái canh các vườn cà phê già cỗi, kém hiệu quả, sử dụng 100% giống cà phê mới có năng suất, chất lượng cao…đã được Bộ công nhận; phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp và kế hoạch phát triển cà phê đặc sản Việt Nam trên địa bàn tỉnh Gia Lai gắn với xây dựng chỉ dẫn địa lý cà phê Gia Lai, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm đáp ứng nhu cầu ở các thị trường xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Phát triển diện tích cà phê chất lượng cao chiếm khoảng 50% diện tích; cà phê đặc sản khoảng 2.340 ha, sản lượng cà phê đặc sản khoảng 1.700 tấn
Đắk Nông: giống chủ yếu trong tỉnh là TRS1, TR4, TR9, cà phê dây, Trường Sơn, Thiện Trường, xanh lùn…Trong đó; các giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận là TR4, TR9 và cà phê dây được người dân trồng mới hoặc tái canh có chất lượng cao, phù hợp với làm nguyên liệu sản xuất cà phê đặc sản, cà phê chất lượng cao. Diện tích cà phê được chứng chứng nhận là 23.489,01 ha, cho sản lượng 82.000 tấn. Trong đó, diện tích chứng nhận VietGAP là 220 ha, chứng nhận hữu cơ là 90 ha…

Đắk Lắk: sử dụng giống cà phê xanh lùn và cà phê dây của Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây nguyên. Tỉnh còn sử dụng các loại giống cà phê vối như: TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13 do Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên nghiên cứu. Trong đó có 04 dòng cà phê vối chín muộn: TR9, TR11, TR12, TR13…nhằm chuyển dần thời gian thu hoạch cà phê vào đúng mùa khô không những thuận lợi trong việc thu hoạch, bảo đảm chất lượng cà phê không bị hư hỏng do mưa. Đắk Lắk có tổng diện tích cà phê có chứng nhận là 45.674,44 ha. Trong những năm qua; việc hình thành một số mô hình liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cà phê theo chuỗi giá trị đã bước đầu có những tác động tích cực đối với sự phát triển của ngành hàng cà phê. Hình thành quy mô liên kết sản xuất cà phê lớn điển hình như: Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ cà phê của Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, với diện tích 20.000 ha, có 12 HTX và 7.000 hộ nông dân tham gia. Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ cà phê của Công ty Netstle. Diện tích còn lại do người dân tự liên kết với các doanh nghiệp khát thu mua sản phẩm cà phê trên diện tích của từng hộ, hoặc các HTX đứng ra làm đầu mối liên kết. Việc liên kết sản xuất đã giúp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê ở các hộ nông dân và cải thiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Tiếp tục tái canh cà phê giai đoạn 2021 – 2025, bình quân mỗi năm tái canh khoảng 4.000ha/năm. Đảm bảo 100% diện tích tái canh được sử dụng giống tốt, chất lượng và áp dụng đúng quy trình tái canh.
Lâm Đồng: hiện có 20 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ cà phê với 9.214 hộ liên kết, diện tích 17.643 ha, sản lượng thu mua đạt 59.951 tấn (chiếm 11,63 tổng sản lượng cà phê toàn tỉnh). Một số doanh nghiệp đang đầu tư thiết bị công nghệ để sản xuất sản phẩm cà phê hòa tan nhằm đem lại giá trị cao và đáp ứng với nhu cầu tiêu dùng như: Công ty TNHH cà phê Thái Châu, Công ty TNHH Tám Trình…có 12 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ cà phê chất lượng cao. Lâm Đồng được chứng nhận 46.791 ha cho sản lượng 244.211 tấn.. Quy hoạch đến năm 2025; diện tích cây cà phê 170.000 ha, diện tích cà phê robusta 153.000 ha, diện tích cà phê catimor 17.000 ha. Hình thành vùng sản xuất cà phê đặc sản với diện tích khoảng 3.370 ha và sản lượng dự kiến đạt 1.460 tấn. Phát triển cà phê chè đặc sản tại xã Trạm Hành, Xuân Trường – TP.Đà Lạt và xã Lát, Đa Sar – huyện Lạc Dương, với diện tích khoảng 2.900 ha và sản lượng dự kiến khoảng 1.130 tấn. Phát triển cà phê vối đặc sản tại xã Đinh Lạc, Gung Ré – huyện Di Linh với diện tích khoảng 470 ha và sản lượng dự kiến khoảng 320 tấn. Diện tích, sản lượng cà phê catimor và cà phê robusta đến năm 2030; diện tích cà phê duy trì khoảng 165.000 ha, trong đó diện tích cà phê catimor 20.000 ha, diện tích cà phê robusta 145.000 ha. Mở rộng diện tích các vùng sản xuất cà phê đặc sản lên khoảng 5.040 ha và sản lượng ước đạt 3.070 tấn, trong đó: mở rộng và phát triển các vùng cà phê chè đặc sản tại xã Trạm Hành, Xuân Trường – TP.Đà Lạt và xã Lát, Đa Sar – huyện Lạc Dương lên khoảng 4.100 ha và sản lượng dự kiến sản lượng khoảng 2.250 tấn.
Kon Tum: người dân chủ yếu sử dụng giống cà phê lai đa dòng TRS1 và giống TR4, TR9 đã được Bộ NN&PTNT công nhận là giống có năng suất cao, thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu, kháng được bệnh gỉ sắt. Đối với cà phê đặc sản có một số giống như TR4, cà phê dây, Robusta Sẻ, Coffea Arabica…Kon Tum có tổng diện tích sản xuất cà phê có ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là 13.456,5 ha. Mở rộng và phát triển vùng cà phê vối đặc sản tại xã Đinh Lạc, Gung Ré – huyện Di Linh lên diện tích khoảng 940 ha và sản lượng dự kiến khoảng 820 tấn.
Sơn La: chủ yếu là sử dụng giống cà phê chè Catimor; Sơn La cũng đã đưa vào trồng thử nghiệm giống cà phê: THA1, TN1, TN2,… được chọn lọc từ Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên, tuy nhiên việc phát triển mở rộng diện tích còn chưa nhiều. Sơn La, diện tích cà phê được cấp chứng nhận tương đương 8.509,5,5 ha, trong đó: tổ chức RA cấp chứng nhận cho sản xuất sản phẩm cà phê đạt tiêu chuẩn RA cho 2.179,5 ha; cấp 6.250 ha sản xuất theo tiêu chuẩn 4C, có Công ty TNHH xuất nhập khẩu cà phê Minh Tiến – CN Sơn La, diện tích chứng nhận RA 3.140,5 ha, 4C 4.250 ha. Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Cát Quế – CN Sơn La diện tích chứng nhận RA 7.000 ha, 4C 2.000 ha. Công ty cà phê Phúc Sinh – Sơn La diện tích chứng nhận RA 2.039 ha; cấp chứng nhận VietGAP 80 ha. Tỉnh Sơn La tối ưu cho sự phát triển của cây cà phê; tập trung đầu tư phát triển cà phê đặc sản tại địa bàn 11 xã thuộc 04 huyện – thành phố là: TP. Sơn La – huyện Thuận Châu, Mai Sơn và Sốp Cộp với tổng diện tích trồng cà phê đặc sản đến năm 2025 đạt 3.900 ha, với tổng sản lượng đạt 6.686 tấn, trong đó sản phẩm cà phê đạt tiêu chuẩn đặc sản đạt trên 1.300 tấn. Đến năm 2030 diện tích cà phê đặc sản tăng lên gần 6.000 ha; với tổng sản lượng hơn 11.000 tấn, trong đó sản phẩm cà phê đạt tiêu chuẩn đặc sản đạt trên 2.800 tấn.
Điện Biên: trên địa bàn tỉnh là cà phê chè; 96% là giống cà phê chè Catimor F6; còn lại khoảng 4% là giống cà phê chè TN1, TN2. Giống cà phê TN1, TN2, do Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Mường Ảng (trước đây là Trung tâm Khuyến nông) sản xuất. Tuy nhiên; mấy năm gần đây người dân không trồng mới cà phê nên Trung tâm ngưng sản xuất cây giống. Điện Biên có doanh nghiệp tư nhân cà phê Minh Tiến được chứng nhận sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn UTZ với 619 hộ tham gia, diện tích 1.318,47 ha, sản lượng 2.149,53 tấn cà phê nhân/năm. Đối với chứng nhận HACCP: có 02 đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê trên địa bàn tỉnh được chứng nhận HACCP, gồm: Năm 2019 có Công ty TNHH cà phê Đại Bách, huyện Mường Ảng được chứng nhận tiêu chuẩn HACCP với quy mô 10 tấn cà phê chế biến/năm (đến nay Công ty này đã ngừng hoạt động); Công ty cổ phần cà phê Hồng Kỳ Quốc tế được chứng nhận HACCP năm 2020 với quy mô 20 tấn cà phê chế biến/năm.
Bình Phước: vận động bà con duy trì diện tích cây cà phê trên địa bàn; áp dụng các biện pháp tưới tiên tiến tiết kiệm nước và cơ giới hóa trong sản xuất cà phê, sử dụng phân bón và thuốc BVTV hữu cơ sinh học trong trồng trọt. Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh. Phối hợp với các Sở, ngành liên quan hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp tìm kiếm doanh nghiệp hợp tác, liên kết theo chuỗi cà phê chất lượng cao.
Định vị cho lễ hội cà phê từ câu chuyện cà phê:

Đại diện từ ISO – Trung Quốc cho biết: năm 2022 , Trung Quốc NK 8.000 tấn cà phê rang xay, trong đó nhập từ Malyasia nhiều nhất, cũng trong năm 2022 nhãn hàng cà phê địa phương ở Trung Quốc phát triển nhanh, đạt 8,97 triệu Nhân dân tệ, cà phê Trung Quốc đang trên ngưỡng bùng phát thị trường tiêu thụ, tập trung từ 300 – 500 chuỗi cửa hàng cà phê ở thành phố cấp 01 – 02…Mỗi chuỗi cà phê có phong cách và khách hàng riêng. 72%/cửa hàng ở Trung Quốc tăng nhanh chóng, cà phê quy mô trung bình đang mở rộng nhanh chóng, vì áp lực trả tiền mặt bằng thấp nên các cửa hàng trung bình tăng nhanh, đây là lý do mà Trung Quốc nhập khá nhiều cà phê nhân từ VN để chế biến. Sự tăng trưởng tiêu thụ cà phê, được phản ánh từ những cửa hàng cà phê…Mô hình kinh doanh chuỗi cửa hàng cà phê sẽ là cơ hội để thị trường cà phê phát triển. Xu hướng tiêu dùng ở Trung Quốc là 03 dòng cà phê: cà phê giá thấp đi vào đời sống của đông đảo người dân địa phương, bữa sáng và cà phê đang dần phổ biến trong giới trẻ, loại tiêu thụ cà phê hiện nay được yêu chuộng là cà phê có hương vị trái cây.

Ông Lê Minh Hoan – Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, tặng hoa cà phê cho đại sứ truyền thông lễ hội cà phê
Ông Lê Minh Hoan – Bộ Trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng: nền văn hoá cồng chiêng cần làm gì để đi đôi với “văn hoá cà phê Tây Nguyên”. Mùa lễ hội sau, tôi sẽ làm việc với Bộ Văn hoá để gắn kết với lễ hội cà phê, tạo nên “văn hoá cà phê”. Mỗi quốc gia có một cách uống cà phê khác nhau, đó là văn hoá cà phê, nếu người Ý uống cà phê nhanh, Pháp uống cà phê chậm như người VN…Mỗi năm, các cửa hàng cà phê trên thế giới lấy đi cả tỷ giờ của người uống cà phê, đó là văn hoá uống cà phê. Vì vậy chúng ta cần định vị cho văn hoá cà phê, sau này nên nghiên cứu lễ hội cà phê tặng hoa là hoa “cà phê”…để mọi người đến với lễ hội cà phê thấy toàn cà phê. Chúng ta cần đưa Tây Nguyên đi xa hơn từ câu chuyện cà phê…

Để phát triển “Cà phê đặc sản” Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu “Cà phê đặc sản” ngày càng tăng ở các thị trường xuất khẩu và nội địa. Nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới, góp phần phát triển bền vững Ngành cà phê Việt Nam cần trải qua 02 giai đoạn.
Giai đoạn 2021 – 2025: hình thành cơ chế chính sách, thương hiệu cà phê đặc sản Việt Nam. Ban hành các quy trình sản xuất cà phê đặc sản Việt Nam. Định hướng diện tích cà phê đặc sản đạt 11.500 ha, chiếm khoảng 2% tổng diện tích cà phê; sản lượng cà phê đặc sản khoảng 5.000 tấn. Giai đoạn 2026 – 2030: hoàn thiện cơ chế chính sách, thương hiệu cà phê đặc sản Việt Nam. Định hướng diện tích đạt 19.000 ha, chiếm khoảng 3% diện tích cà phê Việt Nam; sản lượng cà phê đặc sản khoảng 11.000 tấn.



